Tuesday 2 december 2 02 /12 /Dez. 11:10

         Tư tưởng Phật giáo đại thừa nhập thế

trong tác phẩm âm nhạc Trịnh Công Sơn

Phan Bình Sơn

 

Đạo Phật trong phần lớn những ca khúc Trịnh Công Sơn là chuyện không có gì là lạ. Cũng một vài tác giả Việt nam hay ngoại quốc đã nghiên cứu đến, bàn đến.

Chuyện lạ là các bài nghiên cứu đó chỉ nói đến phần thô của vấn đề. Không phải là thô thiển, mà là chưa sâu. Mà cũng không phải là chưa sâu, mà là đặt người nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, bàn luận, chưa chính xác trong vị trí quan sát và tương phản. Có nghĩa là đặt trong một thế giới quan sát cổ điển, với lý luận: con cò màu trắng con quạ màu đen với nghĩa bình thường.

Đối tượng đạo Phật đưa ra mới chỉ là tôn giáo. Mà hình thái tư tưởng Phật giáo trong âm nhạc TCS phải định nghĩa là „thiền ca“. Không những là thiền ca, một vài bài ca phải gọi với tên là “lời giáo huấn của Đức Phật“, hay là lời giải thích ngôn ngữ, ý nghĩa của tư tưởng đại thừa . Đi xa hơn, phải định nghĩa cho ca từ TCS là giải thích triết lý Phật giáo thông qua từ ngữ thông thường hoặc qua bằng các khái niệm của triết học hiện sinh. Và một phần sau rốt là phải gọi âm nhạc „thiền ca“ của TCS là sự giải đáp các quan hệ khăng khít giữa sự hiểu biết, phổ cập, phổ biến về truyền thống văn học nhân văn Việt nam bằng những tư tưởng của các dân tộc Việt Nam. Mà các dân tộc Việt, các dân tộc Bách Việt, trước khi có đạo Phật , đã có những tư tưởng truyền thống sâu sắc và nhân đạo, y như thể đạo Phật đã có trước ở đất này. Chuyện ấy không có gì là lạ. Vì nhân văn là lối tư duy của con người, thì tư duy nhân đạo phải giống nhau. Có nghĩa là chưa có đạo Phật thì tư duy đạo Phật đã có sẵn trong muôn vàn thế giới rồi.

Đối tượng người viết cũng giới hạn mình trong một khuôn khổ là người khảo sát tư tưởng đạo Phật, mà chưa phải là người chiêm nghiệm đạo. Nên cái nhìn tất qua loa, đại khái. Sự giải thích cũng chỉ là cò trắng quạ đen. Nói một chuyện mà như chưa nói gì. Chuyện đấy có hạ thấp họ đi hay không ? Thưa không. Chẳng qua là, những khảo cứu đó chưa đủ sâu, nên mới có bài viết này.

Hãy nhìn và cảm nhận nhạc TCS trong mối tương quan giáo dục, nâng giá trị con người lên rất cao. Âm nhạc của ông nói đến bờ tre vách đất, nói tiếng ru à ơi, nói tiếng của „con tim trái phá“, nói sỏi đá bờ khe. Âm nhạc của ông là sỏi đá, là cây cỏ. Ông là một vị Bồ tát thị hiện cứu độ chúng sanh. Ông không những thị hiện là một „rong ca“ lạc loài, mà ông đã thị hiện trong đất đen dưới chân ta, để nhân quần dẫm đạp không biết bao lần („đời gọi em biết bao lần“), để làm con giun bị xéo quằn quại, thì mới nói tiếng của kẻ lạc loài thống thiết giữa đêm trường đen dày của thế kỷ tàn phai. Đó là hạnh nguyện Bồ tát của ông. Ông không phải lên chùa làm một hành giả xuất gia, nhưng ông là một Bồ Tát thị hiện. Sự thị hiện trong tư tưởng đại thừa là một triết lý cứu độ sâu xa. Sự thị hiện trong đạo Phật, thông qua ông là ứng hoá thân, báo thân và pháp thân, đều có đủ. Qua hành động của ông, qua âm thanh của ông và qua tư tưởng lớn viên mãn của ông.

Hiểu được sự thị hiện, cần phải có hiểu biết về thân và tâm. Hai khái niệm trong tri thức Phật giáo. Không phải là khái niệm phần hồn và phần xác trong triết lý Tây phương. Mà nếu còn mang tư tưởng Ky Tô giáo thì chẳng có hai. Mà chỉ có một.“Adam là một linh hồn“.

Khái niệm thân tâm của đạo Phật tạm dùng nghĩa của thường nhật là hồn và xác. Nhưng xét về cảm thọ, và vọng khởi vọng nghiệp thì phải hiểu sâu sắc thân tâm mới hiểu cái vận hành quan trọng nhất của nó, đó là tạo nghiệp, vọng nghiệp, chấp trước, dính chấp, quả nghiệp, nghiệp báo hiện tiền, nghiệp báo vị lai, nghiệp báo quá khứ,...

Các „vận hành„ này không dính dáng gì đến thân cả, mặc dù khi tạo nên nó cũng đã bị chi phối hoàn toàn do nghiệp từ vô tận cùng cực rồi. Không dính dáng có nghĩa là không „đề ý“ đến nó. Vì để ý đến nó, gọi là chấp trước vào thân, thì đau khổ chồng chất mà thôi, vì thân này sẽ bị sinh lão bệnh tử cho vào tù chung thân. Chẳng sao cứu ra được. Mà thân ở đây là các chất hữu cơ và vô cơ tạo nên cơ thể con người, mà khi sống cũng như khi không còn sống, chẳng có gì phàn nàn về sự khác nhau của nó cả.

Chính vì sự có dính dáng, đã có sẳn từ muôn đời muôn kiếp rồi, nên con người lầm tưởng hai thái cực: một là con người này có cố hữu không thay đổi, và hai là các hành động của anh ta chẳng bao giờ biết trước. Hai chuyện sai đó đều đã được Phật pháp (kinh điển, tư tưởng, phương pháp,...) giải quyết triệt để rốt ráo cho đến tận câu hỏi sau cùng là con người mình biết từ đâu ra, và đi về đâu, chứ chưa cần lời giải thích về sự biết trước mọi việc đang xảy ra, sẽ xảy ra của chúng sanh, mà ngăn ngừa, giáo dục, hướng dẫn tới một đời sống lành mạnh, vui tươi.

Quay lại chuyện thị hiện. Sự thị hiện thể hiện qua tâm. Cho nên đôi khi ta nghe lời của một người bần cùng mạt hạng đôi khi trong sáng, cao thượng, giải thoát,  như một lời của một vị thánh sống. Đó gọi là thị hiện. Bởi vì các chủng tử trôi lăn mang cộng nghiệp cùng mọi nghiệp khác. Các tâm Phật, và Bồ tát, do công đức tu luyện ngàn năm nay, trải dài đều khắp thế gian, nên nó nhằm nhằm vào lúc tâm chúng sinh „bất loạn“ để thị hiện, thông qua ngũ uẩn ( năm giác quan của con người), biến thành quán âm để thị hiện tương tác với tâm chúng sanh. Không chỉ một mình ta nghe, mà vô lượng chúng sanh đang cùng nghe quán âm thị hiện. Cho nên việc nghe từ lòng đất tiếng nói là chuyện bình thường. Trịnh Công Sơn đã biết vậy nên viết vậy. Đơn giản là đang giảng giải Phật học cho chúng sinh.

Sau đây là thống kê cơ bản những chất liệu mà TCS đã dùng để truyền bá đạo Phật, vì đơn giản, Bồ Tát chỉ có một nghiệp duy nhất đó là cứu độ chúng sinh. Nếu có một đạo tràng tác đại chứng minh thì tôi sẽ „đề cử“ ông lên hàng Đại Bồ Tát,còn như chúng ta chỉ là một tiểu Bồ tát nhỏ nhoi. Chúng ta cũng là những Bồ tát thị hiện trong cõi đời „con chim đậu ở cành tre, con cá lội ở trong khe nước nguồn“, cũng làm một sự nghiệp nhỏ, nhưng giống của TCS, là cứu độ chúng sanh mà thôi. Và nếu những hàng Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng nghe được tiếng ông, việc ông đã làm, tôi chắc chắn rằng ông sẽ được tôn vinh đúng như vậy, đúng như cuộc đời ông đã sống và đã cống hiến đến một hơi thở cuối cùng cho nhân quần trong thời mạt pháp này.

Nhng cht liu đó là:

1-Nghiên cu về thân tâm để giữ chúng trong sạch

2- Tính vô thường và vô ngã, không chỉ định nghĩa mà là còn giải thích cặn kẽ cho chúng sinh hiểu

3-Giải thích sự khổ cho nhân loại

4- Giải thích từ bi hỉ xả, không những chỉ là đạo hạnh, mà là còn chỉ dẫn quá trình tu tập từ thô đến tinh vi, từ thấp đến cao

5- Phật tính của mọi người, Phật tính của muôn loài muôn vật

6- Chỉ dẫn con đường giải thoát

7-Chỉ dẫn con đường làm cách mạng giải phóng mình ra khỏi tín điều, u minh.

8- Ca ngợi con người, là ca ngợi sự hiểu biết để chế ngự tâm hồn, không phải là ca ngợi sự loè luẹt, sự hưởng thụ, ích kỷ,...

9- Chỉ ra một con đường cho mọi tình yêu, rồi sẽ có ngày đi đến viên mãn, trọn vẹn, hoàn toàn.

 

Tất cả những điều đó, ông đã làm một cách tế nhị nhưng vô cùng sâu sắc. Cũng như những bài kinh vô giá của đức Phật, ngàn đời nằm „bình yên“ bên cạnh hông ta, nhưng chẳng hề đọc, chẳng hề biết. Vậy kinh hay hay dở đâu lỗi người viết kinh, mà lỗi ở người có đọc hay không.

Cũng hoàn toàn không khác, những bài ca của TCS chứa đựng tiềm tàng những luận kinh vô cùng sâu xa nhưng vô cùng gần gũi với nhân quần. Nhưng con người chỉ ư a với muôn vàn mức độ, từ thấp đến cao những bài kinh đó. Đó còn là may, có nhiều người chưa hiểu,chưa biết gì về lời dạy ồ tát của ông.

Cho nên, gần như một nửa nhân loại còn căm thù ông, khinh bạc, căm ghét ông, khi ông còn sống cũng như ông đã ra đi vào một cõi đời khác. Dễ hiểu thôi. Đức Phật còn tại thế hay Ngài đã tịch diệt thì cũng có muôn vàn kẻ phỉ báng, kiêu khích, chê bai, vu khống, hăm dọa, muốn hám hại,... Ông, thì hàng Bồ tát có lẽ còn thê thảm khốc liệt hơn là chuyện bình thường.

Cho nên chẳng ngạc nhiên rằng, dân „bắc kỳ chính cống“ đã ghét ông thì đã đành, dân „nam kỳ chính gộc“ cũng rủa xả ông không tiếc lời. Ở trong thì cấm đoán lâu dài. Sau thì cho hát tràn lan, ai ai cũng là Khánh Ly thời đại, ai ai cũng chế ra từ mới thay thế, ai ai cũng ư a theo mốt mới cho tân thời. Ở ngoài thì đả kích vu khống, ngăn chặn truyền bá,.... Chẳng qua là sự ghen ghét bài bác thường tình của những nhân quần ô trược, nằm sẵn, nằm sâu, nằm lâu trong bóng tối u minh của giáo điều, mà sinh ra. Có vậy, lời bồ tát thị hiện của ông mới trở nên vĩ đại, bao la, tuyệt đỉnh về nhân đạo và sự khôn ngoan ở đời.

Đừng nhầm tưởng ông là Bồ Tát, là Bồ tát máu thịt. Bồ tát đã mượn cái thân thể thối tha của ông (mọi người ai ai cũng thế thôi), để thị hiện. Do đó, ban đầu chúng ta đã được bàn luận, giải thích từ „thân“ và „tâm“. Nếu hiểu tâm là của ta thì chẳng có sự thị hiện. Vì chẳng có cái gọi là ta thì tâm cũng không phải là của ta. Tâm là tạo tác tương tác của toàn bộ nghiệp trên đời này cộng lại (nói thật mách qué). Tâm ta tốt, xấu, ta nhờ, ta thiệt. Mà „ta“ cũng chỉ là chớp nhoáng „ngộ nhận“ mà thôi. Có nghĩa rằng cái Ta của TCS, hay của ai cũng không có, thì cái tâm cũng không phải của ông, thì khi Bồ tát thị hiện, mới thị hiện „dễ dàng“ làm sao ! Bồ tát đã mượn cái thân tứ đại (đất nước gió lửa) của ông, mượn khẩu của ông để truyền bá đạo pháp cứu người.

Hiểu lý lẽ của đạo Phật, thì hiểu rõ điều đó.

Mà nhân quần xưa nay, phần lớn chưa hiểu, nên mới có chuyện cuộc đời và sự nghiệp. Dùng cuộc đời để chê bai sự nghiệp. Dùng sự nghiệp để che lấp cuộc đời. Hai cái đều cực đoan và sai. Chỉ hiểu thân và tâm thì giải thoát được định kiến này.

Cho nên „Kinh Việt Nam“ của ông xưa nay vẫn hay vẫn tuyệt, nhưng chẳng ai đái hoài biết đến cho thật sâu sắc đủ, như trình độ cao siêu thực chất mà ông đã dùng cái thân còm cõi hao mòn của thời gian năm tháng rong ruổi trên mọi nẻo đời hư ảo để tạo ra. Chúng, bài ca, thiền ca, lời Phật dạy, kinh Việt nam sẽ sống mãi, ít nhất là 300 năm nữa. Bởi tư tưởng lớn của ông là tư tưởng Nguyễn Du. Hai người xa nhau 300 năm nhưng gần nhau trong gang tấc. Hai người đều làm một công chuyện giống nhau. Một người thì hỏi“Văn tế thập loại chúng sinh“, một người thì đáp“ người già em bé, cô gái da vàng, bà mẹ tìm con trên đồi xương trắng...“, trước và sau 300 năm. Nhưng câu hỏi sau 300 năm vẫn còn, chưa thấy ai khóc, ai cười thực thụ thực tình cho Nguyễn Du, thì chẳng còn thời gian đâu để chiêm nghiệm, suy nghĩ để khóc để cười cho Trịnh Công Sơn. Thế thì chẳng có lý do gì nghi ngờ nó, cái thời hoà bình trẻ con hát đồng dao ngoài đường còn kéo dài 300 năm nữa mới có chăng ?. Cho đến ngày con người ca „thánh ca“ của ông trong một nhịp cầu hòa bình“tôi sẽ đi thăm...“, vì 300 năm không đi, rồi chưa đi, thì có ngày sẽ đi. Người ta hiểu rằng lời kinh „cổ“ còn đó, nhà quê chưa có hoà bình thì làm sao ông Bồ tát này đi đâu mà thăm ? Lời kinh chẳng phải nêu ra một giả dụ“khi đất nước tôi(nhà quê tôi) thanh bình“, mà chưa có thì làm sao mà tôi đi, nên mới có chữ „sẽ“. Mong rằng thời gian kéo gần lại, để may ra chúng ta còn thấy được ông đi thăm khắp hai miền rong ruổi đồng dao như thời ông còn sống. Lúc đó, lời Bồ Tát thị hiện trong tấm thân tứ đại nào, là ta biết đó là nghiệp của TCS trong đó. Nhưng có thể là sự may mắn thôi, chứ chưa chắc gì trong quãng đời này, ta thấy ông thị hiện giữa đời. Nhưng chắc chắn một điều với xác suất lớn là ông sẽ thị hiện trên đất da vàng của chúng ta, vì người con gái còn ngủ mê ngủ mệt trong ánh đèn thắp thì mờ, chưa biết bao giờ tỉnh. Mà ông là người chung thủy với „các em tôi“ nên có lẽ ông còn đứng mãi trên cõi đời này để chờ em thức dậy.

 

TCS nói da vàng, là chê da vàng. TCS muốn nói đến lời giải thích cái thân tứ đại, chỉ là một cái túi da không hơn kém. Dù có là „một màu vàng trên da thơm“ nhưng da thơm là tâm thanh tịnh, còn không có tâm thanh tịnh thì màu vàng chẳng có ý nghĩa gì. Thanh tịnh không chỉ một người mà thanh tịnh của cả đồng loại“(nên giữ gìn) màu lúa chín quê hương“.

Còn trong giấc ngủ da vàng là sự ngộ nhận sai trái trong một định kiến muôn đời của người châu Á, trong đó có chúng ta. Mà con đường ông chỉ ra cho chúng ta vượt thác qua ghềnh là cảm nhận, thu vào mình tư tưởng giải thoát của Phật. Ngoài cái đó,chẳng có con đường nào khác tốt hơn hẳn.

(kỳ sau tiếp)

PHS

 

 

von Phan Binh Son - veröffentlicht in: Chấn hưng Phật giáo
Kommentar hinzufügen - Kommentare (0)ansehen
Zurück zur Startseite

Über diesen Blog

Blog erstellen

Kalender

August 2014
M T W T F S S
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31
             
<< < > >>
Erstellen Sie einen Blog auf OverBlog - Kontakt - Nutzungsbedingungen - Werbung - Missbrauch melden - Impressum