Đạo Phật và xã hội

Veröffentlicht auf von Phan Binh Son

Hành động cơ bản trong nguyên lý đạo Phật là việc khước từ hưởng lạc vật chất. Mà khái niệm hưởng lạc với ý nghĩa là sự chạy theo, làm nô lệ cho nó, hay coi sự sống chỉ nhờ vật chất, hoặc đề cao nó, lấy nó làm mục đích và cứu cánh cho mình, và cho xã hội.

 

Đạo Phật không khước từ việc chăm lo đúng mức đến sức khoẻ thể chất, ngược lại còn khuyên con người sống ăn uống điều độ, khi có bệnh phải chú ý chữa chạy cho lành, vệ sinh tắm gội,...là việc thuộc về chánh niệm của những người con trưởng tử Như Lai.

 

Nguyên lý khước từ hưởng thụ vật chất là một lý thuyết làm cho con người thấy rõ bàn chất việc tham muốn. Tham muốn không những đem lại những việc độc hại cho thân thể mà tham muốn, dù chỉ mới là những suy nghĩ trong suy nghĩ, đều có hại. Trạng thái tham muốn là trạng thái không rõ, không làm chủ được hành động mình. Tham muốn là một động lực rất mạnh tự trong cơ thể con người mà nó phát sinh. Tham muốn dường như cứ ngày càng cao hơn lớn hơn, trơ trẽn hơn, bạo lực hơn,...nếu chỉ vì con người ấy không có điều kiện mà thôi, nếu không anh ta muốn thu cả thế giới hưởng thụ vào lòng bàn tay cho bõ một lần tham muốn.

 

Nhưng loài người sinh ra trước khi có đạo Phật. Nguyên tắc cơ bản và động lực chủ yếu của xã hội loài người, và cũng là của từng con người, chưa hiểu và chưa đi theo đạo Phật, là sinh tồn với cái nghĩa vật chất (ăn ở mặc và sinh lý).

 

Bởi nguyên lý khước từ hưởng thụ vật chất, mà xã hội cũng khước từ đạo Phật, xa lánh và huỷ báng đạo Phật.

 

Người ta không thể lý luận được rằng: chờ đến ngày con người thoả mãn đầy đủ vật chất rồi hãy chuyển sang việc chăm lo cho tâm lý của mình (cuộc sống tâm linh). Bởi vì cái quá trình thoả mãn vật chất xem ra vô tận có nguy cơ không bao giờ dừng lại. (Có thể nó kéo dài cho đến ngày toàn bộ thế giới hủy diêt chăng?) Đó chỉ là ngụy biện mà thôi. Ngay bây giờ con người cần phải xem xét để chế ngự thân tâm mình. Đó là hành động thiết thực để có ngay một thiên đường trong giây phút hiện tại, đừng chờ đến ngày tàn bạo sẽ huỷ diệt quả đất chúng ta.

 

Và cũng một phần do thấy sự vô lý của cái gọi là hưởng thụ vật chất, vì không đem lại hạnh phúc thực sự cho con người, nên có các tôn giáo khác nhau ra đời nhằm giúp con người cứu rỗi ra khỏi tình trạnh không thoả mãn, tình trạnh bất toại nguyện của con người.

 

Nhưng tôn giáo khác ngoài đạo Phật cũng chỉ là những lý luận phụ hoạ cho sự hưởng thụ vật chất mà thôi.

Bởi vì hướng phát triển của nhân loại là vật chất cứu rỗi nên dù cho nhiều tôn giáo, triết lý, ra đời cũng chỉ là đi theo phụ hoạ, hỗ trợ, biện hộ cho hưởng thụ vật chất, vẫn coi hưởng thụ nhiều hơn, tinh vi hơn là tiến hoá nền văn minh của con người.

 

Trong quan hệ: vật  chất-tinh thần, thì cái được gọi là khái niệm tinh thần này cũng là vật chất nốt. Bởi khái niệm này của xã hội, hoặc là tinh thần vật chất, hoặc là vật chất tinh thần (materialistischer Idiologie), chứ chẳng phải là tinh thần đúng cách. Tinh thần tuyệt đối, đó là hư vô tuyệt đối chứ không phải là khái niệm tinh thần như xưa nay thế giới vẫn sử dụng.

 

Trong tiến trình văn minh hoá, cách đây 300 năm, đã sản sinh ra tuyên ngôn nhân quyền hợp chủng quốc Hoa Kỳ, cũng như cả quá trình tìm kiếm của con người cho tới tận thế kỷ 21 này, để mưu cầu một cuộc sống thực sự là hạnh phúc và yên ổn, bứt tung xiềng xích của sự bất toại nguyện đang quấn xiết quanh người.

Nhưng đạo phật  lại là lý thuyết đối nghịch với dân quyền, về cơ bản, nên đạo Phật bị bài bác và đối nghịch.

 

Bởi xã hội công dân nhân quyền đảm bảo mọi quyền tự do cá nhân về thân thể, mưu cầu hạnh phúc vật chất. Trong tuyên ngôn nhân quyền, tự do tôn giáo chỉ coi như là một thứ tự do bình thường như mọi thứ tự do khác, mà các tự so khác đều có cơ sở từ sự tự do vật chất mà sinh ra. Cái tinh thần mà tuyên ngôn nhân quyền đưa ra chỉ là loại tinh thần có sau, sinh ra từ sự hưởng thụ mà thôi. Sự hạn chế đó là hạn chế lịch sử. Không quan trọng về lý do. Nhưng nó lại có tác hại cho sự hiểu biết cho con người cho tận đến ngày nay. Hiện tại, con người vẫn lấy tuyên ngôn đó nằm lòng mà không phát triển nó lên cho đúng và phù hợp với hiện tại.

 

Chính điểu đó sẽ làm cho xã hội văn minh hiện nay đi tới diệt vong vì không thấy sự quan trọng của yếu tố chỉ đạo sự suy nghĩ và những cảm giác của con người.

 Họ chỉ chú trọng coi như suy nghĩ này có thể điều hành và vận chuyển nó như một cỗ xe, nguyên lý giống như một công nghệ vận hành tiên tiến kiểu kinh tế hay kỹ thuật nào đó. Bởi vì  họ đã dùng khoa học ngoại vi để tìm hiểu vận hành của suy nghĩ, cho nên đó là một điều viển vông không tưởng đạt được.

Sự chỉ đạo cho suy nghĩ phải là nghiệp. Nền văn minh con người không nghiên cứu vế nghiệp thì không bao giờ họ vận hành nổi cỗ xe văn minh vật chất của thế giới đi lên thoát khỏi hố diệt vong tất yếu phải xảy ra. Nghiệp chính là cái tác động chính và làm vận hành cho suy nghĩ. Bởi thế đạo Phật trở nên khó hiểu khó chấp nhận vì chúng ta sẽ đi vào một thế giới tâm linh hoàn hảo và tươi sáng đẹp đẽ. Cứ như là bầy khỉ đá trong tác phẩm văn học Tôn Ngộ Không của Ngô Thừa Ân, không dám nhảy vào thác nước thì làm sao có động Thuỷ Liêm ? Chỉ có tính Phật trong Tôn Ngộ Không,(tính trong sáng bản thể của muôn loài, cả loài người) mà nó biết chắc trong lĩnh vực khó vào kia, là một chân trời đầy thiện căn và hạnh phúc. Con người ta hiện nay cũng vậy, không chịu đi vào đằng sau cái tâm tưởng của mình, không chiụ đi tìm đằng sau cái suy nghĩ của mình là gì. Cho nên mới không biết đó chính là nghiệp. Và cũng không thể làm chủ vận mệnh của mình.

 

Và vì khó khăn đến vậy mà đạo Phật bị bài báng, phỉ báng. Hoặc như ngày nay, những tăng sỹ bại hoại cũng theo thời theo thế, cố tình biến đạo Phật, bản chất nó cao siêu thâm diệu chừng ấy, mà nay, qua tay những kẻ thầy đồng bà cốt ấy mà đạo Phật bị biến thành một món hàng rẻ tiền có thể bán được, có thể mua được cho những hàng dân hà tiện, yếu ớt về thể xác, èo uột vế tinh thần, dù quyền thế và vàng bạc của họ giắt đầy người.

 

Dù cho ngày nay, đạo Phật sau hơn 2500 năm là một tôn giáo thế giới, có hơn 300 triệu tín đồ, coi như một phần ba nhân loại, nhưng trước sau, đạo Phật chỉ là một tín điều, không hơn không kém.

Tại Việt Nam, tệ hại hơn chỉ coi như một thứ hàng hoá thần thánh hơn là một nền văn hoá tối cao. Hãy đoán xem có bao nhiêu phần trăm người theo và tin Phật. Cho là dân Việt Nam là 85 triệu kể cả nội ngoại trên thế giới. Số người trên 18 tuối theo xét đoán chỉ 50%, thì coi như trong 42,5 triệu người có bao nhiêu người theo đạo Phật ? Tôi phỏng đoán rằng chỉ 15 đến 20 triêu người là cùng. Còn lại là 1 triệu ông đồng bà cốt thầy cúng cô hồn. 5 triệu hay 10 triệu tín đồ Ky tô và Tin lành và các tôn giáo khác. Và vậy, còn khoảng 10 triệu là không tín ngưỡng. Số người này được thế giới vẫn côngnhận là buddhist (theo đạo Phật), vì họ tưởng Buddhismus là quốc đạo của ta như các nước châu Á khác. Vì, cái 10 triệu này, ai mà trong đời không phải là không biết chùa là gì ! Và ông bà cha mẹ tổ tiên hàng xóm nội ngoại của họ ít nhiều cũng đều dính dáng tới đạo Phật.

 

Nhưng khốn thay, từ 1930, khi một vài nhóm thanh niên yêu nước đem một học thuyết coi như là một học thuyết cứu rỗi tiên tiến và cách mạnh nhất thế giới về Việt Nam thì người Việt nam từ lớn đến bé phải trực tiếp hay gián tiếp học bài tẩy rửa tư tưởng lạc hậu phong kiến (đạo Phật trong đó!), để trang hoàng cho mình một tư tưởng cách mạng triệt để mới hòng có thể xây một thiên đường thật sự trên dải đất ngoằn ngoèo hình chữ S này. Cho nên người Việt nam bẽn lẽn, xấu hổ, xa lạ với chùa với vãi sư thầy sư cô, coi như là lam sơn cùng cốc, vời vợi âm u. Khốn nạn thay cho dân Việt !. Lại nữa, người cách mạng có hô chặt đầu sư, họ, những con ngường trong trắng (loại nói gì làm nấy), chẳng hiều gì, họ cũng làm ngay. Đau đớn thay cho những nghiệp báo đã đến và đang đến, vẫn ngày ngày hiện tiền và còn hiện tiền tiếp nữa !

Qua một cuộc bể dâu ấy, sao con người không bài báng xa lánh đạo Phật ! Làm ngược lại mới là lạ!

 

Làm sao cho đạo Phật không còn là một tín điều, mà làm cho đạo Phật trở thành một nền văn hoá chí thiện viên mãn !

Chúng ta chẳng sợ hãi, cũng như những người theo ky Tô giáo ban đầu, khi họ mang trong mình mộtt sứ đồ lớn là bảo tồn tôn giáo của họ trước sự tiêu diệt tàn khốc của đế quốc La mã.

 

Cuộc phấn đấu, giằng co thắng bại ngôi chủ toạ giữa xã hội ham muốn vật chất và một nền văn hoá văn minh, nghĩa là đưa con người đến cội nguồn, dẫn dắt họ đi vững chãi trên con đường tâm linh chân chính và đúng đắn, mới bắt đầu !

Veröffentlicht in Chấn hưng Phật giáo

Um über die neuesten Artikel informiert zu werden, abonnieren:

Kommentiere diesen Post