DÂN TRÍ (1)

Trong nhóm bài:

 

Tương lai cách mạng Việt nam & Cuộc cách mạng không phải làm gì

 

Bài thứ tư:

 

DÂN TRÍ (1)

 

Phan Bình Sơn

 

Dân trí, ban đầu được hiểu là trình độ tri thức của người dân. Người ta hay đưa ra khái niệm này trên một giới hạn lãnh thổ quốc gia để phân biệt, so sánh nó với các quốc gia khác, hoặc dùng nó làm tiền đề để giải thích hay thậm chí gán ghép nó để biện hộ cho tiến bộ hay lạc hậu của dân tộc này, quốc gia nọ. Đó là những việc thực tế qua việc so sánh để người ta cho rằng do dân trí thấp hay dân trí cao đem lại.

Định nghĩa rộng hay hẹp, phức tạp hay giản đơn, điều quan trọng nhất là hiểu khái niệm DÂN TRÍ là gì, và bằng một cách thức nào để có thể làm cho từ dân trí biến thành như một lời giải đáp thiết thực cho bài toán Việt Nam của chúng ta ngày nay ?

 

Dân trí chắc chắn không phải là một tổng hợp các kiến thức, một túi khôn, lại càng không phải là số lượng người có học vị khoa học. Những trí thức chẳng qua cũng lạc lõng như trong sa mạc, vì có nhiều người giỏi uyên bác bao nhiêu, nhưng dân trí của dân tộc Việt Nam cũng nằm im thậm chí đi xuống, bởi vì dân trí chỉ có ý nghĩa thiết thực khi nó bằng cách nào đó đem lại ích lợi cho toàn xã hội, được thể hiện cho lợi ích đa số người dân.

 

Cái túi khôn còn ở xa vời với dân trí. Việc hiểu khái niệm này đối với dân tộc chúng ta không phải là tổng kết và thống kê dân trí, mà là việc giải trình cho bài toán bản chất thực của dân trí là gì, và tại sao dân trí không tham dự trực tiếp để giải bài toán dân sinh ? Nhất là trong việc làm cho dân tộc VN thoát cảnh nghèo đói và u mê.

 

Khi dân tộc Việt Nam ngay từ thời cổ đại đã không bị Trung Quốc đồng hoá, sử gia cổ đã viết rằng bởi vì người Việt đa số không biết tiếng Hán, không đọc, không nói được. Vậy hoá ra, trình độ học kém lại tốt cho dân trí mình ?

Lịch sử chống Pháp từ 1847 đã được Nguyễn Trung Trực khẳng khái tuyên bố“Bao giờ làm sạch cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây“. Đó là lời đầu tiên của tuyên ngôn độc lập Việt Nam chân chính, dẫn đến độc lập năm 1945, chấm dứt một trăm năm độ hộ thực dân Pháp. Dân trí chỉ gói gọn trong một câu, đủ dùng cho người Việt thắng 100 năm nô lệ.

Bài toán dân trí thời xưa thật đơn giản nhưng hiệu lực làm sao!

Thời đó, dân trí chỉ đủ chết và sống. Chết như anh hùng; sống như chó săn. Vì miếng cơm manh áo mà có người Việt đã khom lưng làm tay sai giết hại đồng bào mình. Cũng vì miếng cơm manh áo không chỉ của riêng mình mà của cả dân tộc, vì thế  người dân đã không tiếc máu xương để giành độc lập tự do.

Hoàng Hoa Thám, hùm thiêng Yên Thế không chết trận về tay Pháp mà chết vì kẻ đầu hàng ám sát lúc ngủ. Không chết vì „dân trí“ của ngoại xâm, mà là vì „dân trí“ của người bản xứ (*)

Dân trí có lúc chỉ đủ để đổi 3 kg muối để cho người đi săn thượng du đem một cái đầu người yêu nước nộp cho Pháp.

Nhưng khi cả nước kháng chiến, 1946-1954, đã đưa nền hòa bình lập lại, là kết quả của dân trí đã biến thành lòng yêu nước vô bờ bến của toàn dân tộc Việt Nam. Còn sau đó dân trí chẳng giúp gì cho dân tộc trong việc anh em cam tâm làm cuộc nội chiến giết hại lẫn nhau.

Nước nhà không còn ngoại bang, quay về một mối, nhưng hàng triệu người không ở lại để hưởng thành quả mà chính họ và toàn dân tộc đã đổ biết bao máu xương mới giành được, mà bỏ nước ra đi. Hàng triệu người khác trong nước, công khai hoặc ngấm ngầm không hài lòng, chán ngán, căm phẫn đối với chế độ hiện hành. Lý do chung quy là vì thành quả chính họ đạt được đã không biến thành cái của họ. Quyền lợi của người dân với chính quyền đã tách rời xa nhau.

Vậy dân trí là gì ?

Thời nào miếng ăn cũng là cái tối thượng chỉ huy mọi suy nghĩ và hành động  con người. Vì lợi ích no ấm của muôn dân, đã mang lại ý chí cho bậc anh hùng trở thành quân vương quyền uy và thông minh; vì miếng ăn, con người hạ mình xuống, quay ngược vòng lịch sử tiến hoá, chốc lát đánh đổi chỉ trong một thời khắc vô cùng lớn, để thấp hèn hơn một con thú.

Cách mạng nào cũng chính đáng, nếu cái lo đầu tiên là có miếng ăn cho mọi người dân.

 

Miếng ăn-Dân trí, thực là hai đối nghịch.

Con người bị đói lâu ngày luôn sợ hãi sẽ bị chết đói

Dân trí bây giờ là sống được đảm bảo an ninh như sinh linh được tự do trong khuôn khổ, có đủ ngày hai bữa.

DÂN TRÍ LÀ CÁI GÌ?

Dân trí không giúp được chính con người no đủ, hỏi chi dân trí đi giúp kẻ khác ?

Con người chưa đói đã lo chết đói.

Có trong cảnh tù lao, con người sống như súc vật, mới biết miếng ăn thật lớn lao.

Dân trí hay kiến thức không ích lợi gì.

Châu Âu cũng chỉ trải qua những năm chiến tranh mà ai ai khi nhắc đến cũng sợ hãi, nhất là nghe ở đâu đó có chiến tranh thì họ không khỏi không khóc lóc.

Chiến tranh nhỏ hay chiến tranh lớn đều là cuộc giành giật nhau miếng ăn đánh đổi bằng sự chết chóc mà thôi.

Dân trí đâu ?

Dân trí của chúng ta cách đây một nghìn năm cũng vậy thôi! Đứng yên tại chỗ. Vì sao ?

Vì dân trí không phải cái túi khôn chứa đựng tri thức kinh luật.

Dân trí không phải là những gì chúng ta thấy ở khắp quả cầu này, vì thực sự có lấy gắn vào chúng ta cũng không ra được một kết quả gì giúp ích cho dân cho nước.

Ở phương Đông thì bất quá như Tàu.

Ở phương Tây thì bất quá như Mỹ.

Đâu đâu cũng lầm than trong sự bần hàn của văn hoá nô lệ.

 

Trước khi vào đề tài chính, chúng ta điểm qua một vài khái niệm quan trọng cho đề tài lớn này:

 

1-Tri thức

2- Trí thức

3-Dân trí

 

Ba khái niệm này mơ hồ hình chung như giống nhau.

Thật ra, xét ở chỗ tột cùng, lại là hoàn toàn khác nhau. Tri thức phổ thông, nói chung, là căn bệnh kinh niên của loài người. Sự học và giáo dục vô bờ bến. Đâm ra, học và dạy chỉ còn là mục đích tự thân. Có nghĩa là sau một thời gian, người đi học có một mớ kiến thức gọi là tri thức. Nhưng vào đời, anh chẳng dùng được gì. Thậm chí, thua kém rất nhiều người „vô học“.

Thứ hai: tri thức chỉ là khái niệm sở hữu của từng cá thể, không có ý nghĩa xã hội. Tri thức sẽ bỏ xó, nếu không được xã hội hoá. Có nghĩa là xã hội có công nhận rằng sự đóng góp cùa anh bằng „dân trí“, tốt và hữu ích, trực tiếp dùng ngay vào việc công ích xã hội, hay không.

 

Thực ra, con người chỉ cần học đến lớp 5 là đủ. Nhà trường cần 5 năm hữu hiệu, dạy đông tây kim cổ, bách khoa toàn thư, kỹ nghệ, động thực vật,...Trong năm năm này, việc chính yếu là cho người học, hàng năm đi thực tập trong xã hội bằng những công việc cụ thể trong cái guồng máy làm ra của cải vật chất  và tinh thần, trong phương pháp tự lập và sáng tạo.

Toán lý hoá văn sử địa,v.v... chỉ là chuyên tu, văn ôn võ luyện. Nội dung học chính là phương pháp tiếp cận, phương pháp tư duy. Cùng lắm, học thêm 2 năm nữa, lớp 7 đã là quá đủ đầy cho một con người ra đời, hoàn toàn có thể phục vụ xã hội và chính bản thân mình, trong việc phát huy dân trí và ứng dụng nó.

Các lớp từ trẻ con đến thành niên chỉ là dự bị.

Lớp 13, đại học, sau đại học, trên đại học,... chỉ là cá biệt cho những chuyên gia, kỹ sư chuyên ngành.

Thế nhưng hiện nay, dù có học bao lâu, bao xa, cũng chẳng học được bài dân trí. Dân trí không những là tri thức, là trí thức, mà nó còn cao hơn thế nữa. Nó là động lực phát triển xã hội nhân bản.

 

Tri thức vừa khô vừa thô vừa chẳng giúp ích gì cho xã hội, nếu nó chẳng xã hội hoá cái „túi khôn“ của nó.Và định nghĩa cho rạch ròi, tri thức không xã hội hoá, không thể gọi là tri thức. Mặc dù có người giỏi giang thành đạt, nhưng anh ta chỉ là con đinh ốc trong xã hội tham gia sản xuất ra một lượng tiêu dùng , một định lượng vật chất hay dịch vụ nào đó. Tri thức lúc đó chỉ đóng khung trong việc cân bằng giữa sức lao động bỏ ra và kết quả được thanh toán lại mà thôi. Tri-thức-xã-hội-hoá mới giúp cho xã hội nhân bản và tiến bộ. Tri thức đó đã biến thành dân trí. Cho nên, dân trí là một động năng, một động lượng cho xã hội. Tri thức chỉ là cái nền bên dưới cho dân trí mà thôi, cần nhưng chưa đủ.

 

Còn trí thức? Khái niệm trí thức dùng trong hiện tại không rõ ràng nó thiên về mô tả nào. Mô tả về giai cấp hay tầng lớp thì không những lỗi thời, mà còn lạc hậu không nên dùng. Nếu xét văn phạm: trí là hiểu, hiểu biết; thức là tỉnh táo. Gộp lại là kẻ có hiểu biết và biết dùng cái hiểu biết của mình vào đúng nơi đúng lúc.

Trí thức hiện thời thì lại là một tập hợp rộng rãi. Có lẽ ít nhất cũng là một tập hợp gồm những người đã tốt nghiệp cấp 2,3, và sau đó đã có điều kiện tu chỉnh trong nghề được một thời gian đáng kể nào đó. Nhưng xét về mặt tác dụng của trí thức vào dân trí thì thật đáng buồn, bởi như trên xét về ý nghĩa của hai chữ trí thức, thì trí thức hiện nay bản thân không làm sao gọi là được dùng đúng nơi đúng lúc.

Nếu đúng lúc đúng chỗ thì dân phải giàu, nước phải mạnh, làm gì có chuyện „xoá đói giảm nghèo“ từ năm này qua năm khác ? Qua 55 năm „dân chủ cộng hoà“, chỉ có cái nghèo cái đói, nếu định lưọng là mỗi người có hai bữa cơm rau muống cá kho, mà nửa thế kỷ làm mãi không xong thì dân trí còn tụt hậu là chuyện bình thường.

 

Vậy !

Dân Trí?

Là gì ?

 

Nói gọn lại là ý thức trước miếng ăn.

 

Vì nắm được chặt cái dạ dày của người dân mà chế độ đã nắm chặt cái dân trí của người dân, có nghĩa là chính quyền điều khiển dân trí thông qua cái dạ dày. Đó là quy trình điều hành xã hội của một chế độ độc tài.

Con người muốn giải phóng mình khỏi sự phụ thuộc của cái dạ dày chỉ bằng cách thay đổi ý thức của mình trước miếng ăn.

Dân trí là ý thức của con người trước miếng ăn.

 

Định nghĩa cho rành rẽ, khúc chiết: dân trí là khái niệm xã hội, thuộc về khái niệm ý thức, nghĩa là sự đắn đo, cân nhắc, chuẩn bị hành động, hiểu biết trong hành động tự giác của con người trước những gì mà con người có thể đạt được để mưu cầu sự tồn tại của mình, không chỉ qua hay nhờ những giá trị vật chất, mà còn là, những giá trị tinh thần. Mưu cầu sự tồn tại của mình nghĩa là mưu cầu sự tồn tại cho tổng thể tồn tại xung quanh. Vì xung quanh là hệ quy chiếu của từng người. Không có nó, con người cũng không tồn tại.

Trong mối quan hệ giữa con người và những gì cần thiết cho họ đối với cuộc sống, đã kéo dài trong một quá trình vô tận của lịch sử phát triển con người. Càng cổ đại, miếng ăn càng mang một giá trị, một tỉ lệ lớn trong nhu cầu của con người. Hiểu biết về thế giới xung quanh càng ít, giá trị vật chất càng trở thành tỉ lệ lớn trong nhu cầu của con người. Có nghĩa là tỉ lệ nhu cầu vật chất sẽ là tỉ lệ nghịch với nhu cầu tinh thần. Tỉ lệ nhu cầu vật chất là khái niệm ý thức tự giác và nhu cầu xã hội hoá. Có nghĩa là nhu cầu trong sự tương quan, là một hệ số, không phải là một định lượng tuyệt đối, không chỉ là số lượng vật chất đơn thuần.

Muốn duy trì một tỉ lệ chân chính, thì buộc phải cái này hạ xuống, thì cái kia sẽ tăng lên.

 

Thế giới hiện nay, cũng như từ rất lâu, coi như tỉ lệ sự giàu có thuận với tỉ lệ hưởng thụ. Càng sung sướng, có nghĩa là càng đầy đủ phương tiện và càng hưởng thụ ngày một cao.

Nhưng cái tỉ lệ „con chuột chui vào sừng trâu“ không thể có lối thoát. Bởi vì sự hưởng thụ vật chất không có giới hạn. Mỗi khi con người kéo vào cho mình những lợi ích vật chất này, thì trong lòng con người lại mọc rễ, nẩy mầm một nhu cầu mới, một chu cầu vươn tới một thoả mãn cao hơn, dần dần lớn hơn, nhiều hơn. Thế là cái nhu cầu vật chất hưởng thụ đó cứ xoáy cao dần như vòng xoắn ốc cao mãi, không có lúc dừng. Đó là nghịch lý không cưỡng lại được của sự đề cao hưởng thụ vật chất của con người.

Thế giới hưởng thụ đã tự nghĩ ra cách để con người „tụt xuống dưới một chút“, để lại tìm thấy sự sung mãn mới. Ví dụ như trong tiệc tùng, có loại thuốc uống vào cho con người mửa hết dạ dày ra, để lại chè chén mạnh mẽ tiếp tục cuộc vui. Do cứ đi tìm thú vui, mà con người nghĩ ra những phương pháp „lộn mửa“ tương tự như vậy.

Thế giới cũng tưởng rằng: càng phát triển xã hội, càng có đủ phương pháp đề làm cho con người mãi mãi hạnh phúc và đủ thoả mãn trong một xã hội chuộng vật chất. Về lý thuyết, coi như có thể thực thi chăng ?

Con đường làm con người sung sướng vật chất tối cao không đem lại hạnh phúc cho họ.

Những ngôi sao, đem lại sự sung sướng tinh thần cho mọi người và cho mình, thì đa số kết thúc cuộc sống của mình trong bất hạnh hoặc bi kịch. Vì họ không được học, không được biết sự cân bằng cho tâm hồn. Càng được xã hội vật chất đưa lên cao, họ càng cô đơn. Nhiều người tự vẫn để kế thúc cô đơn.

Xã hội càng chuộng trọng hưởng thụ vật chất, càng mất mát cho nó thật nhiều dự trữ năng lượng của con người, đáng ra có thể để cho những việc làm có giá trị nhân đạo và cao cả hơn, thay vì là những giá trị „hão huyền“, ảo ảnh do sự hào nhoáng bề ngoài của sự giàu sang vật chất mang lại.

Sức khỏe và thân thể con người sẽ tự hại mình bằng những cuộc truy hoan. Đầu óc sẽ mụ mị thường xuyên, đâu còn những giây phút cho sáng tạo và tìm tòi phát minh, hay thay vào những thời gian „nhàn rỗi“, bằng những thời gian tìm tòi những con đường tiến bộ, cách tân cho con người, hay để thời gian hòa mình lẫn vào thiên nhiên xung quanh của những giây phút hạnh phúc trên thiên đường có thật là cuộc sống chân thật hiện tại trên mặt đất này.

 

Nhưng thực tế, đã chứng minh sự ngược lại. Con người thoả mãn nhu cầu cho mình sẽ sinh ra tư tưởng ích kỷ. Đó là cột mốc báo hiệu sự cáo chung việc coi hưởng thụ vật chất là ngòi nổ chính đáng cho sự tăng tốc phát triển xã hội. Quá trình tích lũy vật chất khôngchứa đựng lý thuyết thương yêu con người lẫn nhau. Vậy lấy ở đâu ý thức vì người khác ?

Một chứng minh khác là quá trình tích lũy vật chất đã đẻ ra các cuộc chiến tranh thế giới, chưa kể hàng trăm nghìn các cuộc nội chiến lớn nhỏ. Con người thay vì để hưởng thụ của cải, lại phải hy sinh hàng loạt, để các kẻ khác hưởng thụ thay cho mình? Lại nữa, vì quá nhiều người nên phải có những cuộc chiến tranh để những người còn lại đủ ăn hơn?

 

Cho nên, muốn phá vỡ cái „sừng trâu“, con nguời phải tìm ra cho mình ý thức mới trước miếng ăn. Miếng ăn không hề thay đổi, thay đổi là con người ăn bao nhiêu là đủ ? Giới hạn trên ta đã nghiên cứu, nó không có giới hạn. Chỉ có giới hạn dưới là thực thi. Tất nhiên ở mỗi người sẽ có một giới hạn khác nhau. Nhưng toàn xã hội tự cho mình dừng lại ở một giới hạn tiếp thu vật chất nào đó thì xã hội sẽ mạnh khoẻ hơn, lành mạnh hơn (trong ăn, ở, mặc). Các năng lược và dự trữ của con người sẽ tập trung vào những công việc nâng cao giá trị tinh thần. Con người sẽ bỏ ra tinh thần, nghị lực, của cải nhiều hơn vào việc đi tìm thế giới xung quanh, cái hay, cái đẹp, cái thiện. Chỉ có con đường này mới là con đường vô tận, dẫn con người lên cao mãi trong những bậc thang mới của những giá trị cao cả nhân sinh. Tâm hồn con người, không thể so với cái dạ dày có hạn, mà là một túi khôn vĩnh cửu vô tận.

 

Nếu tự cho mình là đủ, thì con người mới bắt đầu suy nghĩ về việc chia bớt cho những người xung quanh. Nếu tự cho mình chưa đủ, làm sao nghĩ đến kẻ khác ? Vậy ý thức với kẻ khác là điều vô cùng quan trọng trong ý thức trước miếng ăn của con người. Đáng tiếc, phần lớn nhân loại chưa nhận thức được điều này, vẫn còn trong cơn mê kinh niên của hàng thế kỷ nghèo đói đè nặng trên nhiều thế hệ con người.

Thời đại hiện tại vẫn là thiên kỷ còn kéo dài với cái tên hằn đậm nét của nó: Kỷ nguyên chia rẽ.

 

Làm thế nào để con người làm được hai điều: Một là tự cho mình là đủ, hai là chia miếng ăn cho kẻ bên cạnh mình.

Không cần chờ vài thế kỷ phát triển của con người nữa, mà ngay từ bây giờ, con người phải tìm ra cách tiếp cận với hai điều kia, hai điều tối thượng để con người tồn tại và phát triển hài hòa trong một xã hội cân bằng.

 

Không chờ con người được đào tạo trong những trường đại học cao cấp, chỉ cần mỗi người bỏ ra hàng ngày một ít thời gian để suy tư nghĩ ngợi về cả một quá trình con người hình thành và phát triển cho đến ngày nay, cái ngày mà con người được hít thở khí trời và sung sướng hạnh phúc với từng cơn gió nhỏ, với từng hạt mưa hạt nắng thường ngày. Tự nhiên, họ sẽ khám phá ra cái cao cả vô cùng của cuộc sống mà mình đang có trong cái giây phút hiện tại này. Và cái ngưòi bên cạnh, có khác gì mình, họ cũng có cái suy tưởng ấy. Nếu họ không phải là môn đồ của sự tìm kiếm hưởng thụ trong „sừng trâu“.

Thực tế, không phải vậy, cái người bên cạnh sẽ có ý tưởng chiếm đoạt hơn là cho tặng. Và vì vậy mà lịch sử con người sẽ kéo dài lê thê thêm.

 

Trải qua vô tận thời gian, cái khoảng khắc chớp mắt của suy tư, con người sẽ hiểu rằng, muốn phá vỡ cái vòng tròn nghiệp chướng làm cho con người chỉ lo rót cho cái dạ dày của mình, chỉ bằng cách dừng cái nghiệp chướng ấy lại. Bây giờ dừng hay, sau vài thế kỷ nữa dừng lại ý thức ích kỷ chỉ vì mình mình, thì lúc đó, cái nghiệp chướng thiếu ăn sẽ đứng lại. Và con người sẽ bứt tung xích xiềng lâu nay trói buộc họ vào một vòng xoay ma quỷ: hưởng thụ- hưởng thụ cao hơn-hưởng thụ-hưởng thụ cao hơn-.-.-Có nghĩa khi và chỉ khi bứt tung cái xiềng vòng quanh cuộc đời đó, con người sẽ tự do. Sẽ có muôn vàn thời gian để yêu thương, để thực hiện những mơ ước ao xa, để làm những việc cần thiết cho tâm hồn và những sự linh hiển.

Chấm dứt ích kỷ chỉ khi con người tự mình thấy đủ.

Làm thế nào để mình tự thấy đủ ?

 

 

 

 

 

 

Um über die neuesten Artikel informiert zu werden, abonnieren: