tiếp theo DÂN TRÍ

Con người sinh ra, có một thân thể cường tráng, có một bộ óc sáng suốt. Năm giác quan để cảm thụ nhận thế giới cùng năm ngón tay thiên thần làm được mọi việc trên đời và đôi chân“ đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt“.

Nếu trên đời có một bộ máy, thì con người là cái máy hoàn hảo nhất. Thế thì mọi thông tin vật chất và phi vật chất ở đầu ra và đầu vào đều phải tối ưu. Có nghĩa là một cân bằng định lượng cần thiết, để mọi hoạt động của nó được điều hoà. Nhưng con người khác hoàn toàn cái máy ở chỗ nó biết suy tư. Nghịch lý nằm ở đó. Vì biết suy tư, nên nó muốn ăn bất tận, và vì biết suy tư, nó có thể chiêm nghiệm ra những điều mạnh nhất, cao nhất, sáng nhất, và không gì so sánh bằng.

Vậy, một điều đơn giản là chúng ta đã thấy cái nghịch lý của việc ăn uống vô tội vạ, khái quát lên là lối sống hưởng thụ vật chất, sẽ có giới hạn của nó, ở chỗ cái „túi cơm“ của chúng ta chỉ có hạn, trái lại, cái bộ óc biết suy nghĩ lại vô hạn.

 

Tự mình thấy đủ là ý thức. Không có cái gì thái quá cho mình lại là tốt cả. Nó sẽ là yếu tố làm cho con người chúng ta mất cân bằng. Ăn nhiều sẽ giảm thọ, uống nhiều sẽ ngộ độc. Tích trữ của cải nhiều sẽ lao tâm vì quá hăng say làm giàu và lo sợ để giữ của. Nếu làm giàu để cho người khác thì không sao, nếu làm giàu chỉ cho mình để hưởng thụ vật chất, thì lại nuôi chí bền gan quay lại con đường hưởng thụ vô bờ bến không có lối thoát.

Ý thức „đủ“ cho mình còn cần phải đem tới cho người khác. Một mình mình thấy đủ là chưa đủ. Dập tắt được lòng tham miếng ăn, bỏ được sự yêu thương quá đỗi cho miếng ăn, là góp phần nâng cao dân trí.

Ý thức „đủ“ là thái độ ung dung của người quân tử. Không phải chính mình phải vinh thân phì gia thì mình mới có thể giúp người khác cũng vậy. Đó là nghịch lý. Chẳng cần phải giàu có mới biết làm giàu. Cái tối thượng của con người khác cái máy là ở chỗ nó tự do suy tư, và cái gì nó cũng nghĩ ra được cả, huống chi là cách giúp người khác.

Ý thức „đủ“ còn giúp cho xã hội phát triển hài hoà. Hãy nhìn qua phương Tây, những người có nền kỹ trị tuyệt vời bao nhiêu, lại lôi kéo con người vào cuộc truy hoan hưởng thụ vật chất bấy nhiêu. Chúng ta không phủ định giá trị khoa học kỹ thuật, vì ở chừng mức nó nâng cao giá trị con người, nhưng chúng ta phủ định ý nghĩa tiêu dùng thực dụng, và ý thức thúc đẩy, lôi kéo, kích thích, khuyến khích, quảng cáo cho việc tiêu dùng và hưởng thụ, không có ngày dừng, không có lúc nghỉ. Làm vậy, con người sẽ chết dần mòn, như cái máy không tra dầu mỡ mà tra ngập tràn axít mà thôi.

Ý thức „đủ“ giúp con người hướng khoa học kỹ thuật vào việc có ích như sử dụng năng lượng ánh nắng mặt trời nhiều hơn, hơn là kích thích người tiêu dùng. Kích thích người tiêu dùng là chiến lược số một của nền „kinh tế không vì con người“, bởi vì họ coi không có kích thích tiêu dùng thì không có thi đua sản xuất, không có quay vòng tiền thật nhanh, không có lợi nhuận nhiều hơn. Không làm ra những thú vui hay hơn đặc sắc hơn, thì làm sao moi túi tiền nhanh hơn nhiều hơn, để lại có quay vòng vốn nhanh hơn, để lại có vốn đầu tư nhiều hơn...Tóm lại là cái vòng quay trôn ốc lên cao mãi này sẽ chỉ dừng lại một khi nếu có ngày tai hoạ giáng lên đầu toàn nhân loại. Vì lòng tham không đáy của con người sẽ dẫn đến chiến tranh và chết chóc, đó là tất yếu phải xảy ra, khi lòng tham của kẻ này phải tiêu diệt lòng tham của kẻ khác thì may mới có cơ hồ thoả mãn lòng tham. Đó chính là chiến tranh. Vì chiến tranh không có lương tri, chiến tranh không cần suy nghĩ. Còn cái gọi là thi đua lành mạnh chính là việc sản xuất phục vụ toàn dân và không kích thích con người ham hưởng thụ, đề cao quá đáng hưởng thụ thái quá. Hãy nhìn thế giới phương Tây. Mười phần trăm kẻ giàu nứt đố đổ vách, còn lại 80 phần trăm kẻ nghèo đói bất công. Của cải vì cái động lực không biết đủ là gì thúc đẩy, làm cho sự chia của cải xã hội trở nên bất công lạ thường! Một xã hội mà ai cũng cần phải có việc làm, ai cũng được no đủ, dễ thực hiện hơn, nếu lý thuyết „đủ“, được hiểu và thực hành trong xã hội. Như vậy, các kẻ giàu hơn sẽ tìm cách chia xẻ cho những kẻ khác bằng cái cách tối ưu nào đó, vì họ đã hiều cái luật „đủ“ của nhân loại.

Ý thức đủ sẽ làm cho thế giới hoà bình. Vì rằng sẽ không còn người đi kèn cựa nhau nữa.

Ngày xưa, ông bà ta đã có ý thức đủ, ngày xưa, nước Việt nam đã có nhiều thời hoà bình no ấm

„ Ruột bầu nấu với râu tôm

Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”

 

Chồng còng mà lấy vợ còng

Nằm giường thì chật nằm nong thì vừa

 

Một túp lều tranh, hai trái tim vàng

 

Giá trị cũ nhưng ý nghĩa thời đại mới. Khi nào con người quay về với khái niệm hạnh phúc giản đơn chân thật, thì lúc đó là lúc đã tìm được lại giá trị chân thật của sự vừa đủ, sự ung dung, sự cao thượng một cách dân dã bình thường mà ai cũng làm được như thế.

 

Hãy xem các con người sống lâu trên hành tinh này, ai cũng sống một cuộc sống vô tư đạm bạc. Nếu lại yêu mến kẻ khác nữa thì khác nào là những thần tiên có thật. Thật là gương tốt cho dân trí.

 

Và một khi con người cho mình đủ, lúc đó, con người sẽ có đủ thời gian để nghĩa đến kẻ khác.

Thương người như thể thương thân, không phải bây giờ, xa xưa tiền nhân cũng đã biết thái độ „tự vừa lòng với mình“, để yêu mến kẻ khác. Bởi chưa vừa lòng với mình thì chưa thể yêu mến người khác được.

 

Người phương Tây với triết lý sống theo truyền thống Ki Tô giáo, kinh thánh đã nói rằng: „Hãy thương yêu người bên cạnh, yêu cả kẻ thù của mình“. Làm sao làm được như thế ? Đó là triết lý của con chim. „Hãy xem loài chim trời. Chẳng có gieo, gặt, cũng chẳng có thâu trữ vào kho tàng, mà Cha các người trên trời nuôi nó.“ (**). Một khi không sợ đói nữa là bước đầu chú ý đến việc yêu mến kẻ khác. Là phương thức sống hoà đồng với thiên nhiên cây cỏ. Hiểu sâu hơn, là con người sinh ra đã có „thông hành bảo đảm“, chỉ vì con người u mê không nhìn thấy mà thôi.

Còn đạo Phật khuyên con người chấm dứt tham ái, là chấm dứt mọi khổ đau. Một trong những tham ái nguy hiểm nhất là cầu hưởng thụ và tham vật chất. Và đức hạnh Bồ tát đầu tiên là từ bi, có nghĩa là hành động tất cả vì người khác, đem cho họ vật chất no đủ, đem cho họ sự vui mừng hạnh phúc không còn phiền não đoạ đầy.

Cả hai tôn giáo đều dạy con người tự mình biết no đủ, tự mình biết dừng lại.

Hai tôn giáo đều chống lại việc bắt thiên nhiên hàng phục mình, là ý tưởng điên rồ của những kẻ ham lợi vật chất. Sống hài hòa, bảo vệ thiên nhiên, thì chính thiên nhiên sẽ đem lợi lợi ích đầy đủ và sung mãn cho con người. Chính thiên nhiên dạy con người tự biết no đủ cho mình như thế nào.

Hiểu cái „đủ“, nghĩa là hiểu ý nghĩa đa nguyên của vũ trụ. Rằng mọi vật trên đời đều tồn tại hài hoà trong một thế giới cân bằng. Cái đủ của con người là sự hiểu biết và học hỏi thiên nhiên. Học hỏi thiên nhiên là học cách no đủ, và trạng thái „luôn thoả mãn với chính mình“. Trạng thái đó là một trạng thái tự nhiên có, không phải ép buộc, không phải phấn đấu. Hiểu nó tự nhiên đến, có nghĩa là học được cách „đủ“ ở đời.

 

Dân trí đi xuống và tồi tệ khi con người nghèo đói. Khi sợ hãi vì miếng ăn không có, vì có sự khêu gợi kích thích bên ngoài,  rằng „mày sẽ chết đói“người ta sẽ bất chấp mọi thứ, để dần dần sẽ đi vào con đường tội phạm. Làm hại hay ăn cướp của kẻ khác, cho mình. Thực ra, người ta không phải vì đói, mà vì cái suy tưởng không có căn cứ, đã thổi phồng quá đáng trong đầu họ sự đói khổ kia. Sự đói khổ chẳng qua cũng chỉ là tương đối, một cảm giác mà thôi, như muôn vàn cảm giác khác. Người giàu có cũng đi ăn cắp của người khác, hễ một tí là thấy trong lòng một động lực mạnh mẽ trỗi dậy, nhiều hơn là sự đói thật sự.

Hầu như tất cả các tội phạm đều sinh ra từ ý thức trước miếng ăn. Ý thức quan trọng nhất là ý thức lao động. Nói rõ hơn là ý thức tồn tại của con người. Sự hiểu biết sâu sắc của con người về đời sống họ đang có, cuộc sống họ đang hưởng. Khi đưa miếng ăn lên miệng là lúc nảy sinh và suy tư về cả quá trình tồn tại của ta, của mọi người. Hiểu được sự ăn chẳng qua là một quá trình bảo hành cuộc sống có đủ năng lượng. Cái đồ ăn trăm ngàn lần quan trọng hơn vẫn là trí khôn ở đời, gộp lại gọi nó là dân trí.

Cái đủ ở đời có loại là thỏa mãn, có loại là vươn lên. Cái „đủ“ vươn lên là cái đủ cho từng ngày mới, từng ngày mai. Một ngày mai khác hẳn, linh thiêng hơn, cao đẹp hơn, đáng sống hơn. Cái đủ này là cái nhiều lên bất tận. Nhưng vẫn coi nó là đủ“. Đủ theo một triết lý sống vươn lên tới siêu việt. Siêu việt là ý tưởng mà con người luôn tự bứt mình ra khỏi chốn lãnh đạm thờ ơ đời thường nhật. Một lãnh đạm thường nhật của một ngày hai bữa và con người sống cứ dư ra một tí vừa đủ một cuộc sống như tất cả mọi người im lặng, nằm im, không cần biết gì hơn. Cái loại „đủ“này không thể gọi đủ được, vì loại này sẽ sinh ra tâm trạng chán nản lười biếng cho con người. Và miếng ăn cho họ, vật chất hay tinh thần, đều không cần gì thêm nữa. Thế là cái đủ vật chất trở thành cái trì trệ cho tâm hồn, mà không biết món ăn tinh thần là vĩnh cửu, không bao giờ đủ cho con người. Biết sự vĩnh cửu của tinh thần đó là biết „đủ“ chân chính.

 

Vậy, cái „đủ“ đã hội đầy đủ lý lẽ, nếu coi „chưa đủ“ thì sẽ ra sao, nếu coi đã „đủ“ thì lợi ích thế nào. Có lẽ không cần phải thừa giấy mực thêm làm chi nữa.

 

Khi tự thấy đủ đươc, nghĩa là bắt đầu bứt tung cái xiềng xích nô lệ lâu nay đang đè nặng trên các thế hệ con người chúng ta.

 

Dân-trí-trí-tuệ-vĩnh-cửu này không thể lấy ở đâu ra, không có trường lớp, không có bằng cấp, không phụ thuộc tuổi tác, chỉ có ở cuộc đời chiêm nghiệm của mỗi con người. Cái này mới là cái cần cho dân tộc và tổ quốc để mọi người được sống trong hoà bình và an lạc.

 

070508

Phan Hoàng Sơn

 _____

Ghi chú:

(*) Thực ra là do một“ khách“ hành thích, tiếng chỉ người Trung Hoa tại Việt Nam lúc đó.

(**) Nguyên văn trích từ Kinh Thánh, Tân ước, Ma-Thi-Ơ, Chương 6, đoạn 25:

„...Các ngươi há chẳng phải là quý trọng hơn loài chim sao? Vả lại, có ai trong vòng các ngươi lo lắng mà làm cho đời mình dài thêm một khắc không? Còn về phần quần áo, các ngươi lại lo lắng mà làm chi? Hãy ngắm xem những hoa huệ ngoài đồng... Ấy vậy các ngươi chớ lo lắng mà nói rằng: Chúng ta sẽ ăn gì ?Uống gì? Mặc gì?...

 

PHS

Um über die neuesten Artikel informiert zu werden, abonnieren: