? HÒA HỢP HÒA GIẢI ?Chỉ là chiến thuật trong quá trình cách mạng tự do dân chủ Việt Nam

? HÒA HỢP HÒA GIẢI ?

 

Chỉ là chiến thuật trong quá trình cách mạng tự do dân chủ Việt Nam

 

Phan Bình Sơn

 

Hòa hợp hòa giải chỉ là một đề tài nhân tiện bàn tới. Điều quan trọng hơn là lực lượng dân tộc dân chủ cần phải xác định rõ phương hướng và mục tiêu hành động của mình trong thời gian tới đây.

Điều đáng tiếc là một số nhà văn,  đã tham gia ý kiến vào hoạt động chính trị, tuy rằng mới trong khuôn khổ tư tưởng và đường lối, trong lúc chưa nghiên cứu chính trị, và chưa có „tư duy chính trị“, thành ra viết về những đề tài thuộc về chính trị giống như „gân gà“.

Nội dung chính bài tham luận này là phân tích những khái niệm dùng chưa được chính xác. Quan trọng hơn cả là xác định lại bản chất và nội dung cuộc cách mạng dân tộc và dân chủ Việt Nam.

Nếu có gì sai sót, mong bạn đọc lượng thứ.

 

Bài này gồm những phần sau:

 

1-Khi nào có hoà hợp hòa giải (*)?

 

2-Sự khác nhau giữa nhà chính trị và nhà văn

 

3-Bàn về một cách phân chia lực lượng tự do dân chủ

 

4- Một dự án: Cách mạng Việt nam tuần tự sẽ đi như thế nào?

 

 

Phần một:

 
Khi nào có hoà hợp hòa giải ?

 

 

Khi nào có hoà hợp hoà giải ?

Hòa hợp hòa giải (HHHG hay HGHH), là một khái niệm không gắn liền với một tiền đề chính trị rõ ràng. Cái tên “vô thưởng vô phạt” là cách dùng từ ngữ để làm nhẹ tính chất đối kháng trong chính trị của các phe phái trong một tổ chức tạm thời để thương lượng các nội dung và phương hướng chính trị theo một mục đích được xác định ban đầu bằng thỏa thuận hai bên (thỏa thuận đó không nhất thiết chứa đựng trong nó những nội dung trực tiếp đến nội dung của “HHHG”). Chính vì nó không có tiền đề rõ ràng, nên khi hình thành nó đã chứa đựng bên trong tiềm ẩn của sự toan tính giành phần áp đảo hay lợi thế về chính trị của một bên so với bên kia.

Vì thế, HGHH không bao giờ là chiến lược chính trị.

Mặt khác, cụm từ này là sự “sáng tạo “ hoàn toàn của chính quyền cộng sản. Với tư thế và lòng sáng suốt, chúng ta thừa hiểu lý do và mục đích nào, chính quyền cộng sản đã có “nhã ý“ này. Chúng ta có đủ trí tuệ và biện luận để thấy chính quyền CS hoàn toàn không có lòng tốt nào, khi họ đưa ra HHHG.

 

Hoà hợp hòa giải chỉ có được khi xảy ra hai trường hợp sau:

 

 1-Chế độ cầm quyền hiện thời tự giải tán quốc hội, làm tiền đề cho việc dần dần xoá bỏ tính bất hơp pháp của nhà nước đương thời trên pháp lý nhân đạo, bằng cả một giai đoạn dài chuyển tiếp, đi đến bầu cử tự do. Trong giai đoạn chuyển tiếp đó thành lập một ủy ban “Hoà hợp hòa giải quốc gia”, lấy số lượng đại biểu quốc hội VN hiện thời làm mốc, có thành phần 1/1, có nghĩa là được chỉ định ( của các đảng phái), và thống nhất đề cử (các đại diện nhân dân địa phương), giữa các thành phần tham gia ủy ban, nghĩa là: một nhân viên nhà nước CS thì là một công dân đại diện của tất cả đồng bào VN( đại diện cho các đảng phái, đoàn thể, trong và ngoài nước... hiện thời, và do tất cả các địa phương tự chọn).

 

2-Phong trào tự do dân chủ đủ mạnh, buộc chính quyền phải cho tự do lập hội, tự do biều tình, tự do ngôn luận, báo chí. Đủ mạnh đến mức các đảng phái, các tổ chức chính trị và xã hội của nhân dân có tiếng nói ngang bằng về trọng lượng với chính quyền, sẽ dẫn tới việc thành lập một ủy ban “HGHHQG” như trên.

 

Cộng với việc giảm hữu hiệu bộ máy công an và an ninh của chính quyền CS, dân chủ hoá  công an và an ninh quốc gia bằng cách công an và an ninh phải được đại diện nhân dân tham gia, một công an đi kèm một đại diện nhân dân dưới sự điều hành của ủy ban an ninh quốc gia do ủy ban “HGHHQG” chỉ huy, điều hành. Và sự giám sát bầu cử tự do là do ủy ban an ninh này thực hiện. Việc cần thiết có uỷ ban giám sát quốc tế, là tùy điều kiện thực tế, không áp đặt máy móc.

 

Đây là phương án lý thuyết, không nhất thiết thực tế như vậy, chỉ là phương hướng hành động.

Phương án một là chính quyền CS chủ động; phương án hai là lực lượng đối lập chủ động

Theo thực tế hiện nay, cả hai trường hợp đều khó xảy ra ngay trong thời điểm này tại Việt Nam.

Nếu phương án hai xảy ra, thì cách mạng DTDC sẽ xảy ra, và HHHG không cần thiết nữa.

Rằng, nếu phương án một xảy ra, thì còn có cơ hội để HHHG thật sự, khi chính quyền CS thấy họ không nên tham quyền cố vị lâu hơn nữa, chỉ tổ kéo dài tình trạng thảm hại của đất nước mà thôi.(Tuy được truyền thông che đậy khéo và những sách lược, chiến lược lừa mị nhân dân và quốc tế đầy ngọan mục của chính quyền CS)

 

Qua phương hướng hành động này, người ta có thể dễ dàng nhận thấy: hoà hợp hòa giải chỉ là chiến thuật. Chỉ là phương pháp, mục đích giai đoạn nhất thời. Có thể cần thiết, có thể không cần thiết, có thể thay thế bằng một biện pháp (chiến thuật) khác, miễn sao cho mục đích cách mạng vẫn giữ nguyên vẹn.

 

Các nhà dân chủ nhầm lẫn là vì các vị lẫn lộn giữa chiến lược và chiến thuật.

Chiến lược cách mạng của chúng ta là bằng mọi giá, thực hiện cho được cách mang dân tộc dân chủ tại Việt nam, chiến lược của chúng ta không phải là HHHG dân tộc.

 

Hòa hợp hòa giải theo ý tưởng của một vài tác giả là việc hoà giải trong nhân dân (Khác hẳn với HGHH trên lĩnh vực nhà nước quốc gia-Nội dung trình bày ở trên). Nếu nhìn từ góc độ giữa từng người trong xã hội thì chúng ta phải nói đến địa bàn phạm vi diễn ra cuộc vận động toàn dân này. Nếu “sân chơi” không đủ, không hiện thực, khó thành lập, thì cuộc vận động HGHH dân tộc cũng không thể nào thành hình được. Cái “luật chơi” đầu tiên là tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp biểu tình, đã không thể đặt ra (không thành lập được), vậy làm sao tổ chức, thực hiện và hoàn thành được HGHH ??

Vậy, HGHH là ý tưởng phi thực tế. Vậy, ý tưởng dùng HGHH trên mặt bằng nhân dân, như mong muốn, gợi ý của một vài tác giả cũng không thể thực hiện được.

 

Ông Tiêu Dao Bảo Cự có viết trong bài “Hoà giải hoà hợp và cuộc vận động dân chủ hoá đất nước bằng phương thức diễn biến hoà bình” có viết ;...”hoà giải hoà hợp với người cộng sản và bất cứ thành phần cực đoan nào, trên thế mạnh của dân tộc...., dân tộc phải tạo được sức mạnh tuyệt đối đó trên cơ sở hoà giải hoà hợp với nhau giữa các thành phần trong đại khối dân tộc.”

Xin được góp ý với ông như sau.

1-      Dùng từ ngữ” cuộc vận động dân chủ hoá đất nước”, về nguyện tắc chính trị là sai cơ bản. 

Từ ngữ này thuộc phạm trù tuyên truyền của chế độ CS, hoặc là sự hiểu lầm của những người dân chủ.

Dân chủ hoá, chỉ dùng khi: Quá trình dân chủ đã được bắt đầu, và người khởi xướng và điều hành phải là những người dân chủ, là chúng ta, không ai khác!

“Cuộc vận động dân chủ hoá đất nước” là cái không có thật. Thứ nhất, chính quyền CS không có tư cách là người đứng ra làm cuộc vận động này! Thứ hai, cái gọi là những người dân chủ trong nước đang làm là “cuộc đấu tranh cho dân chủ”. “Cuộc vận động dân chủ hoá đất nước” và “cuộc đấu tranh cho dân chủ” là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau về bản chất.

Tự nhiên coi như đang có dân chủ hoá, là mặc nhiên công nhận chính quyền hiện tại đã có dân chủ, và đang “cải tiến” dân chủ.

Như vậy là nhầm lẫn chính trị.

Cụm từ”dân chủ hoá đất nước”, mới nghe thì có lý, nếu hiểu được diễn giải là VN không sớm thì muộn cũng phải đi theo trào lưu dân chủ của thế giới. Nhưng nói vậy thì cũng như không nói gì,(so VN với thế giới), vì nói về một điều hiển nhiên.

 Nên coi việc khi sử dụng khái niệm này chỉ là một chiến thuật kêu gọi công khai sự tự thức tỉnh của những người trong chế độ cầm quyền hiện nay mà thôi.

 

2-      Hai câu gần nhau trong đoạn trích trên đây, xung đột về logic, đã phá vỡ giá trị của nó.

Mệnh đề A: “HGHH trên thế mạnh của dân tộc”

Mệnh đề B: “Dân tộc phải tạo được sức mạnh tuyệt đối đó trên cơ sở HGHH với nhau...”

Mệnh đề đầu tiên nói thế mạnh dân tộc là cái có trước, mệnh đề thứ hai nói thế mạnh dân tộc là có sau. Vậy là không logic, dẫn đến câu nói ở trên không có ý nghĩa gì.

Bản thân mệnh đề A đã sai, ở chỗ: nếu chúng ta đã có thế mạnh của dân tộc thì không cần HGHH với CS, mà thực hiện cho tới hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ(**). Trong quá trình hoàn thành cuộc cách mạng đó, chúng ta đã hòa giải với CS rồi, không cần làm riêng rẽ ra nữa. Thực chất, trong quá trình CMDTDC, việc HGHH tự nhiên biến mất.

Khốn nỗi, thế mạnh của dân tộc chưa áp đảo được CS nên chúng ta còn phải phấn đấu tiếp tục không ngừng.

Như vậy, thế mạnh của dân tộc là điều chưa có trong khi đang HGHH với CS, thì những người dân chủ đi hiệp thương chỉ là viển vông.

 

3-“bất cứ thành phần cực đoan nào”. Ở đây, không rõ ông nói đến thành phần cực đoan nào ?Dùng từ ngữ như vậy không đoàn kết toàn dân được. Kẻ cực đoan nhất là chính quyền đảng trị cộng sản, ngoài ra, không còn một thành phần nào cực đoan hơn. Người xưa nay cho là cực đoan là người chống cộng cực đoan. Nhưng họ là những người cực đoan có điều kiện. Đó là “cây muốn lặng nhưng gió chẳng đừng”, cho nên thành tâm mà nói, người chống cộng cực đoan không phải là người cực đoan. Mặt khác, giữa nhân dân VN với nhau, ta đứng vào cùng một hàng ngũ trước khi lập nên một mặt trận của cuộc cách mạng DTDC này. Tuy là một tập hợp đa nguyên, nhưng có chung một mục đích duy nhất là hoà bình và tự do cho VN. Thì không nên tách riêng tập hợp nào khác nữa giữa hai tập hợp chính: Dân tộc VN và nhà cầm quyền hiện nay.

 

4-Danh từ “người Cộng sản”, ông dùng ở đây không hợp thời, không hợp với giai đoạn chính trị này nữa.“Người CS” không phải là đối tượng cách mạng. Đối tượng CM là tập hợp chính trị, là chính quyền VN hiện nay. Người CS chỉ là một khái niệm về người, mà một người CS hay nhiều người cộng sản chẳng có làm được trò trống gì, ngoài việc cùng nhau nghiên cứu tiếp tục chủ nghĩa Mác, nếu họ không cùng nhau dùng bạo lực xây nên một chính thể (dù cho rằng không phù hợp với tiến bộ nhân loại). Vậy, đối tượng cách mạng là chính quyền cộng sản, chứ không là người CS. Bởi vì nếu chúng ta làm một cuộc thử nghiệm, đấu tranh với từng người CS rời rạc, thì có lẽ nhân đạo và tiến bộ sẽ dễ dàng chiến thắng. Nhưng vì họ phải cùng nhau  xả thân bảo vệ chế độ là bảo vệ cái nồi cơm, bổng lộc, tước vị của họ, là cái mà tập hợp những người CS đã tạo nên, thì cuộc cách mạng của chúng ta không dễ gì thắng trong ngày một ngày hai. Đưa khái niệm “người CS” làm loãng thái độ chính trị của cuộc cách mạng chúng ta.

Nhiều người CS đã đứng về phía những người dân chủ, không còn thuộc chính quyền CS, ít nhất, không chấp nhận tư tưởng chủ nghĩa ngoại lai, phản dân chủ, phản khoa học, không thể đẩy những thành phần đó sang phía bên kẻ thù nhân dân. 

Cuộc cách mạng của chúng ta cũng không phải là một cuộc họp hoà giải với nhau giữa những người dân bất đồng chính kiến.

 

Nói về HGHH, lại có nhà văn, nhà dân chủ nêu rằng: giữa nhân dân với nhau có cần phải hoà hợp hòa giải không ?, và họ trả lời rằng có cần. (Ví dụ như bài viết của tác giả Tiêu Dao Bảo Cự). Thật là một câu hỏi ngây thơ về xã hội. Nếu giữa người dân, đó là quan hệ thuộc lĩnh vực xã hội, thì chỉ có hoà giải thôi chứ làm gì có hoà hợp ?(nói đúng là dung hòa). Mặt khác, ý nghĩa của hòa giải ở đây, giữa người dân, hoàn toàn khác với hoà giải chính trị, là giải quyết những khác biệt về chính trị, đường lối chính trị giữa đảng phái hoặc tổ chức chính trị trong xã hội, với mục đích xây dựng thể chế chính trị.

Còn hoà giải trong nhân dân thì chỉ ở lĩnh vực quan hệ con người. Cùng lắm, giữa các tổ chức đoàn thể chính trị thì gọi là hiệp thương. Nếu có gì vượt lên tầm quốc gia, dân tộc, thì đã có khái niệm “hoà giải chính trị” kia thay thế, không cần “hoà giải” trong làng xã với nhau nữa. Sự chấp nhận khác biệt, sự chịu hoà với nhau trong nhân dân đã là tiền đề làm cho việc, hoà hợp hoà giải trong nhân dân không cần thiết nữa. Mà mục đích của hoà giải trong nhân dân chỉ là sự đồng thuận

Nêu việc HGHH cũng cần trong nhân dân là việc làm làm chệch phương hướng chính trị, làm mất đi tính chất chính trị của khái niệm HGHH.

 

Về đường lối chính trị, khi đưa ra giải pháp chính trị hòa hợp hoà giải đối lập với chính quyền CS, không cần đưa vấn đề về sự không nhất quán giữa những người trong hàng ngũ  đấu tranh dân chủ ra để bàn. Hai mặt bằng khác nhau, hai nội dung khác nhau. Việc nội bộ những người dân chủ không phải là đề tài công khai, khi “hiệp thương “ với cộng sản. Việc xoá bỏ các khác biệt giữa những lực lượng dân chủ không phải là nội dung trong việc HGHH đối với chính quyền CS.

Đó là nội dung riêng trong một chuyên đề dành riêng.

 

Với một nội dung khác,  nhà văn nói trên đã viết: HGHH,...đó là niềm thôi thúc, là sự nghiệp của cả dân tộc. Điều này đã nói ở trên, đây là nhầm lẫn giữa chiến lược và chiến thuật. Coi đó là sự nghiệp của cả dân tộc là đi chệch đường. Sự nghiệp của cả dân tộc là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ chứ không chỉ là HGHH. ( nếu viết...HGHH là một sự nghiệp nhỏ đối với sự nghiệp lớn của dân tộc. Thì về logic thì tạm ổn, nhưng về tu từ thì không cần viết như thế).

Tuy nhiên, vì lẽ nào không thể nói như vậy ?

Chỉ có đứng ở địa vị nhà cầm quyền, thì họ hoàn toàn có thể nói như vậy. Vì họ coi HHHG là một sự nghiệp, chẳng qua là đánh lừa dư luận, và nếu đưa ra sách kế đó,(không phải là phương án đúng, vì chính quyền sẽ không giải tán quốc hội), họ chỉ được chứ không mất gì vì họ là chủ thể, để đưa ra HHHG. Có HHHG đi chăng nữa, bản chất chế độ không có gì thay đổi, vì họ sẽ ra sức làm cho phía kia ( nếu chúng ta chịu ngồi vào bàn cùng họ), là chúng ta, sẽ bắt buộc phải đồng ý chấp nhận điều kiện HHHG của CS, một điều kiện chắc chắn không có mùi vị gì như mùi vị tự do dân chủ mà chúng ta từng biết đến.

Tóm lại: HHHG trên mặt bằng quốc gia, dân tộc, mà coi đó là sự nghiệp của chúng ta là quá coi nhẹ vị trí chính trị của mình, những người dân chủ. Trái lại, coi sự xích mích với nhau giữa người dân cũng phải HHHG thì lại quá quan trọng vấn đề. Đó là vừa mắc bệnh quá tả, lại vừa quá hữu. Quá hữu với chính quyền CS; quá tả với cộng đồng dân tộc.

 

 

Việc lấy từ ngữ làm vũ khí sắc bén để chiến thắng CS là hợp thời và hợp lý. Bởi CS sẽ chỉ thua vì sự chính nghĩa được hành sử, có nghĩa sẽ thua vì đạo lý, một đaọ lý sắc bén của cha ông đã để lại cho chúng ta từ hàng ngàn năm nay.

CS sẽ thua vì ngôn ngữ, về những lý lẽ mà những kẻ tồn tại nhờ bạo lực và bằng bạo lực không thể tồn tại trên cái lý lẽ đúng chân thiện, trên chân lý, trên lẽ phải, và trên nhân đạo con người được.

 

Ngoài ra, khái niệm HGHH chỉ là một nội dung chuyên đề thảo luận trên các diễn đàn mà thôi, chứ đều không có một giá trị thực tế nào cả, nếu áp dụng máy móc không tạo được điều kiện cần và đủ như trên đã viết.

 

Nhầm lẫn lớn nhất đối với nhà chính trị, nếu họ không hiểu rõ ràng rành mạch rằng: không bao giờ chấp nhận sự ban ơn từ trên xuống khi nhà cầm quyền hiện nay đề ra HGHH.

( Sự hiểu như các diễn giải của các bài viết vừa qua mang tính tạm thời, qua loa đại khái vô hình chung và không rõ ràng. Tư duy chính trị yêu cầu trước hết là phải thỏa mãn các điều kiện “khi và chỉ khi” hoặc “cần và đủ”.)

 

 

Phần hai:

                       

Sự khác nhau giữa nhà chính trị và nhà văn

 

 

Mục đích văn học là con người. Nhiệm vụ bậc nhất của văn học là tiên đoán tương lai.

Tất cả những quốc gia, ở đó, xã hội đã phát triển và văn minh, đều hình thành do dựa vào những giá trị tinh thần lớn của dân tộc mình và nhân loại thế giới.

Juyns Vecnơ đã viết tiểu thuyết viễn tưởng trước đây, cho thế giới ngày nay chế tạo ra những máy móc mà ông đã phác hoạ xưa kia.

Trên hành trình đi cùng dân tộc, văn học đã đi sâu vào từng ngõ ngách của tâm hồn, thể hiện nó, phơi bày nó cho công chúng hưởng ngoạn. Khóc to hơn thiên hạ, buồn lâu hơn thiên hạ,.. cái gì cũng sâu đậm hơn, tối tăm hơn, ác liệt hơn, gay go hơn,...

Nhưng cái vĩ đại nhất của văn học là sự dự đoán tương lai. Ví dụ như chuyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, là một loại dự đoán về cuộc sống, nơi từ trước đó, không ai đụng tới, làm cho tâm hồn con người trở nên phong phú lạ thường, báo hiệu tương lai một chân trời rộng lớn và sáng lạn của nền nhân văn đích thực vì con người, của một xã hội tươi đẹp.

Người làm văn hoá không loại trừ việc tham gia chính trị. Người làm văn hoá là con chim báo bão cho con thuyền vượt khơi. Người làm chính trị trực tiếp rất cần cái  dựa lưng vững chắc của người làm nhân văn. Vì người làm chính trị chú trọng phương cách hoạt động, và nhiều thao tác tối cần thiết, nên cần có người khác, đủ thời gian đọc và kiểm nghiệm thường xuyên mạch sống, nguồn nhân văn của dân tộc và nhân loại, làm chuyên gia cố vấn. Nhưng nếu người làm chính trị  bản thân không bám sát văn học, không cảm nhận sâu xa các giá trị nhân văn, con đường chính trị sẽ đơn điệu, thậm chí xám xịt, rơi vào chủ nghĩa duy phương tiện là trên hết.

Cả hai loại người, nhà văn và nhà chính trị đều có một đặc điểm đạo đức chung giống nhau: đó là vì con người. Vì con người phải dịch ra cụ thể là vì nhân đạo, vì nhân sinh, vì nhân quần.

 

Sự giống nhau và sự khác nhau sẽ rõ nét, nếu những nhà làm nhân văn thấy rõ mình trước hết.

Trong quồng máy vô hình của cuộc cách mạng nhân văn này, người làm văn học phải biết vị trí của mình, và giới hạn mình được đi đâu, đi bao xa. Mình sẽ làm gì, mình phải làm gì, và những gì mình phải nên tránh và những gì mình không nên làm.

Có vậy, cái sự vận động tự thân vô hình, dường như có một khế ước, không thành văn, nhưng mầu nhiệm một cách tối ưu, để cho cuộc vận động của dân tộc ngày ngày đi lên.

 

Người làm chính trị khác như thế nào so với các nhà làm văn học ?

 

Trước hết, phải giải toả từ chính trị.

Chính trị không phải là khái niệm độc chiếm của nhà cầm quyền , hay “làm chính trị” trong xã hội độc tài là điều cấm kỵ.  (Vì loại chính trị này chỉ là loại chính trị lật đổ chế độ mà thôi.) Trong một chế độ dân chủ, ngược lại, chính trị là việc quan tâm của mỗi người dân. Vì người dân có quan tâm, thì nền chính trị ấy mới là của mình, và nền chính trị ấy mới được kiểm tra, thay đổi, và cải thiện không ngừng vì quyền lợi của nhân dân.

 

Nhà chính trị xưa nay bị căm ghét là vì dư luận xã hội cho rằng: người lànm chính trị là những kẻ khao khát quyền lực, tham muốn danh vọng. Khi chưa giành được chính quyền thì họ còn trọng hiền, đãi sỹ. Khi đã có chính quyền thì họ chỉ lo ích kỷ cho bản thân mình và gia đình, bạc đãi người khác, kể cả những người dù là cộng sự lúc hàn vi của mình.

Nhưng ngày nay, chúng ta nên xây dựng hình mẫu người làm chính trị quốc gia như Trần Quốc Tuấn đã dạy. Làm sao chúng ta sáng suốt nhìn nhận những người không ham muốn quyền lợi vật chất, thì những người đó mới thật sự là “quan của dân”.

Đạo lý đúng cho người lãnh đạo quốc gia là người có tâm trong sáng như những người tu hành. Vì họ là người tỉnh thức, không một hình tướng thế gian nào nhiễm vào tâm hồn của họ được, huống chi các ham muốn vật chất tầm thường. Chỉ có lòng từ bi đối với mọi chúng sanh là sự nghiệp cao nhất của người lãnh đạo quốc gia.

Chúng ta xây dựng được một chuẩn mực mới về người làm chính trị, thì mới phù hợp với giai đoạn CM DTDC này được. Một cuộc cách mạng mới phải đòi hỏi một tư duy hoàn toàn mới, với có thể mong rằng cách mạng lần này của chúng ta toàn thắng.

Một quá trình đấu tranh cho cuộc CMDTDC chân chính sẽ nhìn ra và loại trừ khỏi hàng ngũ mình những kẻ cơ hội, chạy theo vinh thân phì gia mà thôi.

 

Chế độ XHCN tại VN đã bước vào thập niên thứ 5. Những người trong hay ngoài chế độ đều  nhiễm nhiều hay ít cái sợ hãi khi nói hay khi dùng từ “chính trị”. Nó hằn sâu ghê gớm, làm cho cả thế hệ run rẩy khi nhắc đến từ này. Từ khi bức tường ô nhục Berlin sụp đổ, con người khắp nơi, kể cả VN, ít nhiều đã không run rẩy vì từ này nữa.

Thế nhưng nó vẫn lảng vảng như bóng đêm đè nặng, kẻ sợ lại kêu to, thì người khác sẽ cũng run theo.

Ví dụ: Vừa rồi có phong trào dân”khiếu kiện”. Thế là bàn tròn dân chủ có người đề nghị thật nhanh:”không nên chính trị hóa việc dân khiếu kiện”. Họ biện luận: Vì người dân kiện về dân sự, khi đạt được mục đích kiện, thì mọi việc sẽ xong.

Nhận định như vậy phiến diện và sai lầm..

Việc khiếu kiện xuất phát từ việc không giải quyết theo pháp luật đã trở thành rộng lớn, quy mô trầm trọng và điạ bàn đều khắp. Từ việc là quyền dân sinh, nó đã dần trở nên tự mang một tầm vóc to hơn. Đó là việc tự nhiên, không ai cố tình.

Từ xưa trong chế độ XHCN, chưa thấy có lúc nào dân đứng chật đường, cờ biểu ngữ rợp trời để phản đối chế độ. Người nhậy cảm, hiểu ngay rằng: cái chốt cống làm cho nước lũ phải tràn qua đê, ngày đầu tưởng là ở xã, dần dần cái chốt cống đi lên ở tận trên trung ương nhà nước. Có nghĩa việc khiếu kiện tự nó trở thành chính trị. Vì nó đụng độ với trung ương nền chính trị chuyên chế. Người dân khiếu kiện giờ đây, chẳng có thề viết đơn, ngồi chờ và được giải quyết ổn thỏa, như một quy định ngàn đời của việc kiện tụng. Vì không thể vậy được, phải giải quyết trở ngại bế tắc trên mặt bằng của tổ chức hành pháp, cho tới mặt bằng của lập pháp và trên mặt bằng lãnh đạo nhà nước. Đi suốt lên như vậy mới tìm ra vật chướng ngại thật sự ở đâu.

Việc “khiếu kiện” này, thực tế, nó đã không cần “chính trị hoá”, nếu trước đó 9 năm (những cuộc kiện có cái đã kéo dài 9 năm nay), đã được chính quyền giải quyết ổn thỏa. Mặt khác, thông qua dân oan, chúng ta mới chỉ biết được cái đỉnh của tảng băng “khiếu kiện”, phần còn ngập sâu dưới nước ta chưa biết. Việc bất công trong xã hội CS không phải là một việc xảy ra đơn lẻ, và không có hệ thống, trái lại, việc bất công đã là việc thường xuyên đều khắp toàn quốc, càng ngày càng to ra với ung mủ nhức nhối hơn, kịch liệt hơn. Vậy, việc kiếu kiện có trở thành chính trị hay không thì quá dễ trả lời.

Ở đây, sự việc diễn ra không như các nhà quan sát dân chủ nhận định: Việc khiếu kiện, cấp quốc gia (Vì đến người lãnh đạo cao nhất của chính quyền CS cũng không giải quyết được), đã mặc nhiên trở thành việc chính trị quốc gia.

 

 

Um über die neuesten Artikel informiert zu werden, abonnieren: